THÀNH TỰU XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM SAU 30 NĂM TÁI LẬP TỈNH

30 năm qua, cùng với quá trình phát triển của tỉnh, Phan Rang - Tháp Chàm cũng đang từng ngày khởi sắc. Đảng bộ và Nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm triển khai nhiệm vụ với bối cảnh có nhiều thuận lợi. Đất nước ổn định, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới, đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng không ngừng củng cố. Trên nền tảng đoàn kết, sáng tạo, hội nhập và phát triển, tỉnh ta đẩy mạnh khai thác tiềm năng, lợi thế, từng bước đi lên với những đột phá chiến lược, vững chắc và hiệu quả; đồng thời, quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành cơ chế chính sách đặc thù để thành phố chủ động, phát huy ý chí, huy động mọi nguồn lực, tiềm năng sáng tạo của Nhân dân, quyết tâm đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, tạo bứt phá vươn lên mạnh mẽ, mang một diện mạo mới, một tầm vóc mới, khẳng định vai trò trung tâm và trong tương lai không xa là đô thị thông minh, hiện đại, phát triển.

Phần I

THÀNH TỰU NỔI BẬT QUA 30 NĂM XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN

 

I- ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT BỐI CẢNH TÌNH HÌNH, THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN

Sau ngày giải phóng, Phan Rang-Tháp Chàm là thị xã với qui mô không lớn, kinh tế với điểm xuất phát thấp, hạ tầng thiếu thốn lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề; Đảng bộ và nhân dân Phan Rang - Tháp Chàm đã đoàn kết, chủ động, tập trung tháo gỡ khó khăn, phát huy tinh thần tự lực, tự cường bắt tay khôi phục lại kinh tế, không ngừng vươn lên phát triển về mọi mặt. Từ sau ngày tái lập tỉnh 1992, với vai trò là tỉnh lỵ, Thành phố được quan tâm đầu tư xây dựng phát triển khá toàn diện. Năm 2005 đạt đô thị loại III, năm 2007 nâng cấp trở thành thành phố trực thuộc tỉnh. Năm 2015, thành phố đạt chuẩn đô thị loại II, khẳng định vai trò trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật của tỉnh.

Với các điều kiện thuận lợi cơ bản trên, đã tác động tích cực đến quá trình phát triển của thành phố. Tuy nhiên, ba thập niên qua, thành phố còn gặp nhiều khó khăn do tác động của tình hình thế giới, trong nước và của tỉnh; những chính sách cắt giảm đầu tư công, dừng chủ trương triển khai dự án điện hạt nhân,…đã  ảnh hưởng đến việc huy động các nguồn lực, làm chậm triển khai thực hiện các chương trình dự án, quy mô kinh tế thành phố còn nhỏ, nguồn lực có hạn, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu. Các tác động tiêu cực của Internet, mạng xã hội, các thế lực thù địch lợi dung chống phá, tình hình thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu đã ảnh hướng đến sản xuất và đời sống của Nhân dân.

II- NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC NỔI BẬT

Với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng bộ, toàn dân và toàn quân, sau 30 năm tái lập tỉnh, thành phố đã đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, tạo được dấu ấn nổi bật, đó là:

1. Về phát triển kinh tế

1.1. Đánh giá sự tăng trưởng của nền kinh tế

Kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá, chất lượng tăng trưởng được nâng lên, thu hẹp dần khoảng cách phát triển giữa đô thị và nông thôn. Tổng giá trị sản xuất của nền kinh tế thành phố năm 2021 đạt 16.928,44 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 1992-2021 là 9,91%/năm([1]). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch rõ nét, đúng hướng, thương mại dịch vụ chiếm 61,3%, công nghiệp xây dựng chiếm 31,2%, nông nghiệp thủy sản chiếm 7,5%­([2]); chất lượng tăng trưởng của một số ngành được nâng lên, nhiều chỉ tiêu kinh tế đạt khá cao. Thu ngân sách nhà nước tăng bình quân 18,2%/năm; năm 2021 đạt 2.856 tỷ đồng chiếm khoảng 70-75% số thu ngân sách của cả tỉnh. Khoảng cách chênh lệch về thu nhập bình quân đầu người so với khu vực và cả nước được rút ngắn (năm 2021 đạt 84,8 triệu/người). Chính sách kêu gọi đầu tư của Tỉnh trên địa bàn thành phố trong những năm qua có nhiều tiến bộ, đã thu hút nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế và người dân để đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế-xã hội của địa phương; tổng mức đầu tư toàn xã hội năm 2000 đạt 12,944 tỷ đồng đến năm 2021 đạt mức 5.217,5 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân hàng năm là 22,97%/năm.

1.2. Thương mại-dịch vụ

Thương mại – dịch vụ đạt mức tăng trưởng khá cao, bình quân 11,32%/năm (giai đoạn 1995-2021), năm 2021 giá trị sản xuất đạt 6.861,8 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 61,3% cơ cấu kinh tế thành phố; từng bước phát triển trở thành trung tâm thương mại - dịch vụ - du lịch của tỉnh. Các hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển mạnh; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ bình quân tăng 15,25%/năm. Số cơ sở sản xuất kinh doanh phát triển nhanh về số lượng và năng lực kinh doanh([3]), góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Đến năm 2021 có 14.710 cơ sở đăng ký kinh doanh tăng 8,11 lần so với năm 1995, trong đó ngành thương nghiệp chiếm 55,14%, khách sạn nhà hàng chiếm 29,56%, các loại hình dịch vụ khác chiếm 15,3% với tổng vốn đăng ký hoạt động vào khoảng 3.500 tỷ đồng.

Hệ thống chợ tiếp tục được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới theo hướng xã hội hóa. Đẩy mạnh phát triển mạng lưới phân phối, cửa hàng, đại lý; hình thành một số tuyến phố mua bán tập trung, văn minh([4]). Dịch vụ vận tải phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, nhiều loại hình kinh doanh vận chuyển hành khách với các loại phương tiện chất lượng cao. Trên địa bàn có khoảng 607 cơ sở kinh doanh vận tải hành khách và hàng hóa; doanh thu vận tải hành khách tăng 37,28%/năm, vận tải hàng hóa tăng 26,17%/năm,  góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và du lịch của địa phương.

Các ngành dịch vụ du lịch, bưu chính viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn pháp lý,... phát triển khá đa dạng. Dịch vụ du lịch tăng trưởng bình quân 17,35%/năm, với nhiều dự án du lịch quy mô lớn được đầu tư. Số lượt khách du lịch năm 2021 đạt 798 ngàn lượt người, tăng 32,14 lần so với năm 1995 (24.627 lượt người). Hệ thống các khách sạn nhà hàng, khu nghỉ dưỡng không ngừng phát triển từ 485 cơ sở năm 1995 đến nay trên địa bàn đã có 4.348 cơ sở đáp ứng nhu cầu nghỉ dưỡng và tổ chức các cuộc hội nghị, hội thảo quy mô khu vực và cả nước.

1.3. Sản xuất công nghiệp-xây dựng

Ngành công nghiệp-xây dựng duy trì tốc độ tăng trưởng, chiếm 31,2% trong cơ cấu kinh tế. Tăng cường đầu tư và mở rộng khu công nghiệp, sản xuất theo hướng công nghiệp xanh, bền vững, làm động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Xây dựng đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật của Cụm công nghiệp Tháp Chàm và Khu công nghiệp Thành Hải, thu hút nhiều doanh nghiệp đến đầu tư, kinh doanh, phát triển ngành nghề; nâng cao giá trị sản xuất ngành công nghiệp ở những năm 2019-2020. Các sản phẩm mới như đá ốp lát, bao bì, tôm xuất khẩu, bia lon,... được sản xuất và đưa vào tham gia thị trường, đóng góp cho ngân sách Nhà nước; năm 2021 giá trị sản xuất đạt 8.665,7 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân giai đoạn 1992-2021 đạt 21,18%/năm.

Sản xuất tiểu thủ công nghiệp có bước phát triển khá ổn định, chiếm tỷ trọng cao trong giá trị sản xuất ngành công nghiệp; đến cuối năm 2021 có 940 cơ sở sản xuất, tăng bình quân 2,65%/năm và tăng 1,14 lần so với năm 1992 (440 cơ sở).  Một số ngành nghề truyền thống chế biến hải sản được quan tâm phát, đã góp phần giải quyết việc làm cho khoảng 21.000-22.000 lao động.

Ngành xây dựng được tạo điều kiện thuận lợi, đầu tư, nâng cao trình độ kỹ thuật, đủ năng lực xây dựng những công trình có quy mô lớn. Tập trung phát triển các khu đô thị mới, các khu dân cư cao cấp, biệt thự, nhà vườn, các khu chung cư theo quy hoạch; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2000-2021 đạt 16,38%/năm.

1.4. Ngành nông nghiệp

Ngành nông nghiệp được cơ cấu lại gắn với xây dựng nông thôn mới đạt kết quả quan trọng, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp xanh, an toàn thực phẩm, đáp ứng yêu cầu của thị trường. Quan tâm đầu tư hạ tầng tương đối đồng bộ, chú trọng những vùng sản xuất tập trung ở phường Đô Vinh, Văn Hải, xã Thành Hải. Hệ thống kênh mương nội đồng được kiên cố hóa; đầu tư một số hệ thống kênh phục vụ tưới tiêu và thoát nước đô thị, kết hợp giao thông. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 1992-2021 đạt 10,74%/năm, cơ cấu nội bộ ngành chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành trồng trọt từ 84,93% (năm 1992) xuống 59,16% năm 2021, tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng từ 15,1% (năm 1992) lên 33,87% năm 2021. Đặc biệt là các dịch vụ phục vụ ngành nông nghiệp phát triển mạnh chiếm 6,97% trong nội bộ ngành và tăng 3,23 lần so với năm 1992. Giá trị sản xuất bình quân trên 01 ha diện tích đất nông nghiệp năm 2021 đạt 291,7 triệu đồng/ha.

            Xây dựng nông thôn mới đạt kết quả vượt bậc. Xã nông thôn mới Thành Hải không ngừng được quan tâm đầu tư, nâng chất lượng các tiêu chí, tạo chuyển biến rõ nét trong sinh hoạt nông thôn, nâng cao đời sống nông dân; chú trọng phát triển kinh tế, nhân rộng các mô hình hợp tác sản xuất, làm ăn có hiệu quả với giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, bản sắc dân tộc. Phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới, nâng cao trách nhiệm, chung sức đóng góp và hưởng thụ thành quả xây dựng. Vận dụng lồng ghép nhiều chương trình, dự án của các ngành, các mô hình phát triển sản xuất được chuyển giao([5]); triển khai thực hiện các đồ án quy hoạch ([6]), xây dựng đường nội đồng, nội thôn (dài 17km) và kiên cố hóa kênh mương (dài 09km). Xã Thành Hải đạt 05/05 nhóm tiêu chí, 13/13 nội dung tiêu chí với 24/24 chỉ tiêu về xây dựng Nông thôn mới nâng cao; được Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao năm 2021.

1.5. Ngành thủy sản

Phát triển thủy sản gắn với khai thác bảo vệ tài nguyên môi trường, giữ vững an ninh và chủ quyền biển, đảo. Tốc độ tăng trưởng bình quân  13,1%/năm, giá trị sản xuất năm 2021 đạt 788 tỷ đồng chiếm tỉ trọng 3,3% trong cơ cấu kinh tế. Năng lực khai thác được đầu tư theo chiều sâu, hiện thành phố có 494 chiếc với tổng công suất 98.000 CV, giảm 16 tàu thuyền so với năm 1992, công suất bình quân 189,38 CV/thuyền, số tàu thuyền có công suất từ 90CV trở lên chiếm 45,55%, (năm 1992 là 8,03%). Sản lượng khai thác hàng năm đạt 15.000-16.000 tấn thủy sản các loại

1.6. Về tài chính-tín dụng

Thu ngân sách thành phố trong 30 năm qua cơ bản đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị địa phương, đảm bảo chi thường xuyên, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh trên địa bàn; tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế tiếp tục đầu tư và phát triển sản xuất, kinh doanh. Kết quả thu ngân sách bình quân hàng năm tăng 15,2%, đến năm 2021 đạt 2.856 tỷ đồng, trong đó có một số nguồn thu chủ lực từ sản xuất công nghiệp và dịch vụ, thu thuế tiêu thụ đặc biệt. Cơ cấu nguồn thu có chuyển biến tích cực, trong đó nguồn thu từ khu vực kinh tế nhà nước Trung ương tăng 13,95%/năm, kinh tế ngoài quốc doanh tăng 15,68%/năm, thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 13,8%/năm, đã có một số sản phẩm mới đóng góp tích cực vào ngân sách như chế biến thủy sản xuất khẩu, sản xuất bia, thuốc lá, chế biến hạt điều, may xuất khẩu,...

Hoạt động tín dụng trên địa bàn đáp ứng nhu cầu vốn của các thành phần kinh tế đầu tư, kinh doanh và phát triển. Tổng mức huy động bình quân tăng 19,2%/năm. Ngân hàng chính sách xã hội hoạt động hiệu quả, đúng đối tượng, góp phần tích cực thực hiện chính sách an sinh xã hội, khắc phục rủi ro, giải quyết việc làm, giảm nghèo.

1.7. Phát triển đô thị, tài nguyên môi trường và đầu tư phát triển

Với vai trò là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của tỉnh, nhất là từ khi có Nghị quyết 06-NQ/TU, ngày 08/12/2011 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận (khóa XII) về xây dựng thành phố Phan Rang – Tháp Chàm đạt chuẩn đô thị loại II vào năm 2015, định hướng phát triển đến năm 2020 và những năm tiếp theo. Ngay từ đầu nhiệm kỳ 2015 – 2020, thành phố đã triển khai xây dựng các nghị quyết chuyên đề, các đề án về xây dựng, hoàn thiện và nâng cao chất lượng đô thị loại II, xác định nội dung trọng tâm để tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện và thường xuyên đánh giá, bổ sung giải pháp phù hợp, giải quyết những vấn đề mới phát sinh. Đẩy mạnh thực hiện các nội dung về xây dựng và phát triển đô thị; huy động các nguồn lực; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; hiệu quả sản xuất nông nghiệp; xây dựng thành phố xanh, sạch, đẹp... Tiềm năng, lợi thế của đô thị trung tâm được phát huy; hạ tầng kỹ thuật đô thị, kiến trúc, cảnh quan môi trường đầu tư đồng bộ, hiện đại, khang trang, sạch, đẹp. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn thành phố trong 30 năm qua (1992-2021) khoảng 38.269 tỷ đồng. Công tác quy hoạch chỉnh trang đô thị thực hiện kịp thời, phù hợp. Chú trọng đầu tư các tuyến phố văn minh, hệ thống công viên, cây xanh và chung tay giữ gìn vệ sinh, giảm thiểu tác hại môi trường; đến nay diện tích cây xanh đô thị đạt trên 9 m2/người. các tuyến đường hẻm nội thành đã được bê tông hóa trên 80 km với tổng kinh phí trên 20.000 tỷ đồng; 100% thôn, khu phố đã có lưới điện quốc gia, đáp ứng đầy đủ điện phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất; hơn 95% đường nội thành được chiếu sáng; tỷ lệ hộ dân dùng nước sạch đạt tỷ lệ trên 99%.

Công tác quản lý nhà nước về tài nguyên - môi trường được tăng cường trên các lĩnh vực, công bố quy hoạch sử dụng đất, quản lý khai thác cát ở sông Dinh, cửa biển, đầu tư các công trình chống sạt lở sông Dinh. Công tác giao đất, thu hồi đất được tập trung chỉ đạo. Xử lý nước thải, rác thải được kiểm soát chặt chẽ bảo đảm môi trường của thành phố ngày càng tốt hơn, 99% chất thải, rác thải đô thị được thu gom và xử lý, mô hình xử lý rác thải không tiếp đất có hiệu quả, có 98% hộ gia đình có công trình hợp vệ sinh, 16/16 phường, xã đã có quy hoạch chỉnh trang đô thị và quy hoạch sử dụng đất chi tiết đến năm 2020.

Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện rõ rệt. Tập trung kêu gọi, thu hút vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế để triển khai các dự án khu đô thị mới, khu dân cư tập trung, trung tâm thương mại, siêu thị; phát triển hệ thống dịch vụ khách sạn, nhà hàng...; đã huy động vốn của các thành phần kinh tế đạt 26.367 tỷ đồng (mỗi năm 879 tỷ đồng). Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng nhanh cả về số lượng và quy mô, hoạt động đa ngành nghề; giai đoạn 2015 - 2020, có 565 doanh nghiệp thành lập mới và đang hoạt động, vốn đăng ký gần  2.848 tỷ đồng, nâng tổng số đến nay 989 doanh nghiệp, chiếm 41,9% toàn tỉnh. Thực hiện, chuyển đổi mô hình kinh tế hợp tác kiểu mới có hiệu quả. Thành lập mới 04 Hợp tác xã, nâng tổng số đến nay trên địa bàn thành phố có 16 Hợp tác xã.

2. Về phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội

2.1. Giáo dục – đào tạo, khoa học - công nghệ

Giáo dục - đào tạo có nhiều bước phát triển vượt bậc, nhất là việc mở rộng quy mô trường lớp, đầu tư cơ sở vật chất, tăng cường đội ngũ giáo viên; chất lượng giáo dục ngày càng được nâng lên. Năm 1996, Thị xã được công nhận đạt tiêu chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ, đến năm 2020 có 15/16 phường, xã đạt phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở. 16/16 xã, phường đạt chuẩn về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi. Tỷ lệ học sinh lớp 5 hoàn thành chương trình tiểu học đạt 100%; tỷ lệ học sinh cấp trung học cơ sở tốt nghiệp đạt 99,84%; 20/49 trường đạt chuẩn quốc gia chiếm 40,8%. Công tác xã hội hóa giáo dục ngày càng mở rộng, nhất là giáo dục mầm non ngoài công lập, bước đầu đáp ứng nhu cầu xã hội về chất lượng và môi trường giáo dục, hiện có 127 cơ sở giáo dục mầm non.

Lĩnh vực khoa học - công nghệ được quan tâm và đạt kết quả tích cực. Các cấp ủy, chính quyền nhận thức sâu sắc về vai trò, tầm quan trọng của khoa học - công nghệ trong bối cảnh phát triển cách mạng công nghiệp 4.0 đối với phát triển kinh tế - xã hội. Trong những năm qua, các hoạt động chuyển giao khoa học công nghệ, ứng dụng mô hình sản xuất mới được quan tâm, nhất là trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đô thị và một số lĩnh vực khác trong đời sống xã hội.

2.2. Y tế - dân số kế hoạch hóa gia đình

Lĩnh vực y tế có bước tiến bộ. Ngày mới tái lập, ngành Y tế gặp nhiều khó khăn, cơ sở vật chất xuống cấp; đội ngũ cán bộ thiếu và chưa đạt chuẩn về trình độ; trang thiết bị lạc hậu. Đến nay, toàn thành phố có 16/16 phường, xã có trạm y tế và đạt chuẩn quốc gia về y tế; đầu tư xây dựng phòng khám khu vực Phan Rang và Tháp Chàm, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của Nhân dân. Đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế không ngừng lớn mạnh. Các chương trình y tế quốc gia được thực hiện triển khai hàng năm đều đạt từ 95-100% các chỉ tiêu, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi hàng năm giảm 0,67%/năm.

Công tác y tế - dân số - kế hoạch hoá gia đình đạt kết quả tích cực; coi trọng công tác truyền thông chuyển đổi hành vi về dân số - kế hoạch hóa gia đình. Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên giảm, đến năm 2020 tỷ lệ tăng dân số còn 0,8%; quy mô dân số toàn thành phố đạt 168.014 người.

Đặc biệt, thời gian qua, với tinh thần chủ động, quyết liệt, thực hiện đồng bộ và bài bản các giải pháp, thành phố đã và đang kiểm soát chặt chẽ tình hình dịch bệnh dịch bệnh COVID-19. Hiện nay, cùng với cả tỉnh, thành phố bước vào thời kỳ phục hồi phát triển kinh tế - xã hội trong trạng thái ”Thích ứng an toàn, linh hoạt và kiểm soát hiệu quả dịch bệnh”. Các chính sách an sinh xã hội được quan tâm chăm lo. Đến nay, thành phố triển khai chi hỗ trợ đối với các nhóm lao động, Hộ kinh doanh và Doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 với tổng số 25.531 trường hợp, tổng số tiền 53.768 triệu đồng

2.3. Về văn hóa thông tin và Thể dục thể thao

Hoạt động văn hóa, thể thao phát triển rộng khắp từ thành phố đến phường, xã, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần của Nhân dân. Tập trung gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, trùng tu, tôn tạo các di sản văn hóa hóa  ([7]); công nhận 07 di tích cấp tỉnh ([8]). Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” được triển khai rộng khắp([9]). Chú trọng hơn xây dựng môi trường văn hóa, nhất là xây dựng văn hóa trong hệ thống chính trị, ban hành và thực hiện quy tắc ứng xử nơi công sở. Nâng chất lượng hoạt động hệ thống truyền thanh phục vụ nhiệm vụ chính trị, nâng cao đời sống tinh thần Nhân dân. Công tác quản lý Nhà nước về văn hóa, hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa được tăng cường. Duy trì, phát triển và thường xuyên tổ chức các hoạt động thể dục thể thao quần chúng. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động văn hóa ([10]) .

2.4. Thực hiện các chính sách an sinh xã hội

Thực hiện đầy đủ và kịp thời các chính sách an sinh xã hội của Nhà nước; mục tiêu giảm nghèo, giải quyết việc làm hàng năm đều đạt kế hoạch. Triển khai thực hiện các đề án giảm nghèo, giải quyết việc làm, xây dựng nhà ở cho người nghèo và đề án thí điểm giải quyết đất ở cho người nghèo không có đất xây dựng nhà ở giai đoạn 2011-2015 đạt được kết quả khả quan, trong giai đoạn 2007-2021 thành phố đã xây dựng mới và sửa chữa được hơn 375 căn nhà (mỗi năm 20-25 căn). Giải quyết việc làm cho khoảng 60.000 lao động tăng bình quân 2,36%/năm (hàng năm có khoảng 4.000-4.450 lao động có việc làm); đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo chương trình mục tiêu quốc gia là 3.870 lao động; 95 lao động được xuất khẩu đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị từ 6,23% năm 1995 xuống còn 2,97% trong năm 2021.

Chính sách tín dụng ưu đãi của Đảng, Nhà nước đã phát huy tính tích cực xã hội và hiệu quả kinh tế cho người dân, giải quyết kịp thời nhu cầu vay vốn của Nhân dân để giảm nghèo, giải quyết việc làm, học tập của học sinh sinh viên; hàng năm có trên 4.100 lượt hộ gia đình (trong đó có khoảng 630 lượt hộ gia đình thuộc diện hộ nghèo) và hàng ngàn lượt sinh viên được tiếp cận nguồn vốn chính sách; góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 19,67% năm 1995 xuống còn 1,51% vào năm 2021; hộ cận nghèo còn 3,61% (bình quân mỗi năm có 130 hộ thoát nghèo và cận nghèo). 

Thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về nâng cao mức sống người có công bằng mức sống trung bình Nhân dân nơi cư trú; đời sống người có công được nâng lên rõ rệt; triển khai dự án hỗ trợ nhà ở cho người có công với 225 căn nhà được xây dựng với tổng kinh phí 6.750 triệu đồng giải quyết cho 1.965 người có nhà ở ổn định, không còn nhà ở tạm.

3. Xây dựng chính quyền, công tác tư pháp, thanh tra và giải quyết khiếu nại tố cáo

Hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân, công tác quản lý, điều hành, thực hiện nhiệm vụ của UBND các cấp có chuyển biến tích cực. Chất lượng hoạt động tiếp xúc cử tri tiếp tục được nâng lên. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong tỉnh đã bám sát nhiệm vụ chính trị, chức năng, nhiệm vụ để triển khai thực hiện đảm bảo hiệu quả; góp phần xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền vững mạnh.

Công tác cải cách hành chính được triển khai tương đối đồng bộ, quyết liệt, bám sát nhiệm vụ trọng tâm và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố; các cơ quan, đơn vị đã quan tâm triển khai công tác cải cách hành chính tại đơn vị kịp thời, đi vào nền nếp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo, điều hành, đảm bảo công khai, minh bạch, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao sự hài lòng của người dân.

Chỉ đạo thực hiện thường xuyên công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức về chủ trương, chính sách, kiến thức pháp luật cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Thực hiện chế độ tiếp công dân theo quy định, kịp thời giải quyết các khiếu nại về đền bù, giải tỏa và tranh chấp trong nội bộ Nhân dân; đã tiếp 1.652 lượt người, tiếp nhận 5.256 đơn (trong đó đơn không thuộc thẩm quyền 2.457 đơn, đã hướng dẫn, chuyển trả, lưu đơn… ; đơn thuộc thẩm quyền 2.799 đơn: khiếu nại 1.712 đơn, tố cáo 43 đơn, kiến nghị 778 đơn, tranh chấp 266 đơn. Kết quả giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo 1.755/1755 đơn khiếu nại, tố cáo, đạt tỷ lệ 100%, khôi phục quyền cho công dân số tiền 2.457.243.503 đồng…

Trong 30 năm qua, đã tiến hành 26 cuộc thanh tra trách nhiệm và 54 cuộc thanh tra hành chính (thanh tra kinh tế-xã hội), tập trung vào các lĩnh vực quan trọng, dễ phát sinh vi phạm, tiêu cực, tham nhũng, dư luận có nhiều ý kiến bức xúc, như quản lý, sử dụng đất đai, quản lý tài chính, bảo hiểm, chính sách văn hóa - xã hội... Qua thanh tra hành chính, đã kiến nghị và thu hồi cho Ngân sách Nhà nước với số tiền 1.295.173.243 đồng/1.295.173.243 đồng, đạt tỷ lệ 100% và 71.214 m2 đất.

Tăng cường thanh tra, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nhất là đối với các lĩnh vực dễ xảy ra sai phạm. Thực hiện tốt việc quản lý và kê khai tài sản đối với cán bộ theo quy định; không để xảy ra các trường hợp người tố cáo bị trù dập.

Kiện toàn tổ chức, bộ máy các cơ quan tố tụng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp có phẩm chất và nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Điều tra, khởi tố, xét xử và tranh tụng tại phiên tòa đúng luật, không để xảy ra oan sai, bỏ lọt tội phạm. Xây dựng tiêu chí để đánh giá hiệu quả công tác phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí; xây dựng và tuân thủ nghiêm quy tắc ứng xử, chuẩn mực đạo đức công vụ, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục và kiểm tra, giám sát.

4. Quốc phòng - An ninh

Lực lượng quân đội, công an, dân quân tự vệ không ngừng được củng cố, kiện toàn cả về số lượng và chất lượng, trình độ sẵn sàng chiến đấu được nâng cao và trưởng thành về mọi mặt. Tỷ lệ thanh niên nhập ngũ hẳng năm đều đạt 100% chỉ tiêu. Tiềm lực quốc phòng - an ninh, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân tiếp tục tăng cường. Cán bộ, đảng viên và Nhân dân thành phố có tinh thần cảnh giác cao trước mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền quốc gia, chủ quyền biển đảo, xây dựng môi trường an ninh, an toàn phát triển kinh tế - xã hội. Khu vực phòng thủ được xây dựng đi vào chiều sâu và vững chắc, sức mạnh tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu tăng lên. Tổ chức thành công diễn tập khu vực phòng thủ “PR-19” và diễn tập chiến đấu phòng thủ cho 16 phường, xã.

Triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn. Tập trung làm tốt công tác bảo vệ bí mật Nhà nước. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh phê phán các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình”.

Thực hiện nghiêm Chỉ thị số 39-CT/TU, ngày 22/6/2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường quản lý cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang khi tham gia các trang mạng xã hội gắn với công tác bảo vệ bí mật Nhà nước; Nghị quyết số 29-NQ/TW và 30-NQ/TW của Bộ Chính trị, khóa XII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng và Chiến lược an ninh mạng quốc gia. Đẩy mạnh tuyên truyền, theo dõi, đấu tranh ngăn chặn xử lý những thông tin, luận điệu sai trái trên các trang mạng xã hội; chủ động hơn trong cung cấp thông tin tích cực. Rà soát, giải quyết các vụ tranh chấp, khiếu kiện ngay từ cơ sở, không để phần tử xấu lợi dụng xúi giục, kích động Nhân dân tụ tập đông người gây rối an ninh trật tự; triển khai tổ chức diễn tập phương án giả định chống biểu tình, gây rối an ninh đạt kết quả tốt, góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm cho các ngành, các cấp. Trật tự an toàn xã hội tiếp tục chuyển biến tích cực, kiềm chế gia tăng tội phạm và tệ nạn xã hội; tai nạn giao thông cơ bản được kiểm soát; phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được triển khai sâu rộng và đều khắp. Hàng năm, phân loại 100% khu dân cư, xã, phường, cơ quan, doanh nghiệp, trường học đạt tiêu chuẩn “An toàn về an ninh trật tự”.

5. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị

Công tác tư tưởng luôn được coi trọng và tăng cường, góp phần tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội. Tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”; chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kiên quyết phản bác, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, luận điệu xuyên tạc, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước, chủ trương phát triển thành phố.

Các cấp ủy, tổ chức đảng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) gắn Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị đạt kết quả quan trọng, tạo chuyển biến tích cực trong hệ thống chính trị, góp phần nhận diện, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng bộ.

Thực hiện sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính cấp phường, xã và sáp nhập một số thôn, khu phố chưa đủ tiêu chuẩn theo quy định. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được các cấp ủy, chính quyền quan tâm. Tiến hành quy hoạch cấp ủy, cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp. Thực hiện quy trình bổ sung cấp ủy viên thành phố và cấp phường, xã theo đúng quy định phân cấp cán bộ của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Công tác luân chuyển cán bộ, bố trí, sử dụng cán bộ về cơ bản thực hiện theo quy hoạch. Công tác xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức cơ sở đảng, phát triển và nâng cao chất lượng đảng viên được các cấp ủy tập trung chỉ đạo, nhất là đối với tổ chức đảng yếu kém, chi bộ khu dân cư. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên. Đến nay, tổng số đảng viên toàn Đảng bộ thành phố 5.319 đảng viên/58 tổ chức cơ sở đảng trực thuộc (tăng 4.035 đảng viên, giảm 18 tổ chức cơ sở đảng so với năm 1992); kết quả phân loại tổ chức cơ sở đảng hàng năm đạt trên 92% hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy và Ủy ban Kiểm tra các cấp được tăng cường, có hiệu lực, hiệu quả hơn, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng. Công tác thi hành kỷ luật và việc chấp hành kỷ luật trong Đảng thực hiện nghiêm minh, chính xác, kịp thời; chú ý xử lý các biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, chấn chỉnh công tác lãnh đạo, chỉ đạo, cải cách chế độ công vụ.

Thực hiện chế độ tiếp công dân theo quy định, kịp thời giải quyết các khiếu nại về đền bù, giải tỏa và tranh chấp trong nội bộ Nhân dân, tăng cường thanh tra, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nhất là đối với các lĩnh vực dễ xảy ra sai phạm.

Kiện toàn tổ chức, bộ máy các cơ quan tố tụng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp có phẩm chất và nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Công tác điều tra, khởi tố, xét xử và tranh tụng tại phiên tòa đúng luật, không để xảy ra oan sai, bỏ lọt tội phạm.

III- ĐÁNH GIÁ CHUNG, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN

1. Đánh giá chung

Trải qua chặng đường 30 năm xây dựng và phát triển, được sự quan tâm, chỉ đạo, hỗ trợ, giúp đỡ của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở, ban, ngành của tỉnh cùng với tinh thần đoàn kết của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của Nhân dân; đặc biệt là trong những năm,  với sự quyết tâm, năng động, đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, thành phố đã và đang có sự bứt phá vươn lên mạnh mẽ, mang một diện mạo mới, một tầm vóc mới, tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm chính trị kinh tế, khoa học - kỹ thuật của tỉnh. Kinh tế tăng trưởng khá, năng động, khẳng định vai trò trung tâm thương mại - dịch vụ của tỉnh. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch phù hợp quá trình đô thị hóa và tiềm năng, lợi thế của đô thị biển. Diện mạo đô thị không ngừng đổi mới, khang trang, ngày càng hiện đại. Môi trường đầu tư thuận lợi, thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển mạnh, kinh tế tư nhân có vai trò động lực quan trọng trong sự phát triển của thành phố. Thu ngân sách vượt kế hoạch đề ra. Công tác lập và quản lý quy hoạch phát triển đô thị được quan tâm đúng mức, diện mạo đô thị ngày càng văn minh, xanh – sạch hơn. Lĩnh vực văn hóa - xã hội, giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe, bảo vệ môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm,... có nhiều tiến bộ. An ninh chính trị, trật tự xã hội, an toàn giao thông chuyển biến tốt. Bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân; nếp sống văn minh đô thị dần được hình thành với ý thức tự giác tham gia của cộng đồng. Công tác quân sự, quốc phòng địa phương được bảo đảm; an ninh chính trị, trật tự xã hội, an toàn giao thông chuyển biến tốt. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương ương 4, khóa XII đã đạt được những kết quả bước đầu, góp phần tích cực trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Từng bước sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, các đơn vị sự nghiệp công lập tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân, sự quản lý điều hành của chính quyền các cấp có nhiều tiến bộ. Công tác kiểm tra, giám sát về cơ bản được thực hiện thường xuyên, kịp thời chấn chỉnh, ngăn ngừa và xử lý các hành vi vi phạm. Vai trò giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội ngày càng thiết thực, hiệu quả.

2. Hạn chế

Bên cạnh những kết quả được xem là cơ bản, sau 30 phát triển, thành phố vẫn còn những hạn chế nhất định cũng như đã và đang đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, đó là:

- Chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa thật sự bền vững.Lĩnh vực công nghiệp chưa thể hiện vai trò là khâu đột phá; phát triển du lịch chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của đô thị ven biển. Quản lý Nhà nước về đô thị, đất đai, tài nguyên môi trường, xây dựng phối hợp công tác có lúc chưa đồng bộ; có trường hợp vi phạm chậm phát hiện, xử lý; một số tiêu chuẩn đô thị loại II còn thấp.

- Những mặt hạn chế trên lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế chậm khắc phục. Môi trường văn hóa, đời sống đô thị có mặt còn thiếu lành mạnh, có lúc diễn biến phức tạp về an ninh trật tự, tệ nạn xã hội.

- Công tác cải cách hành chính ở một số lĩnh vực còn chậm, so với tốc độ phát triển. Đội ngũ cán bộ, công chức ngày càng được chuẩn hóa, nhưng tính chuyên nghiệp chưa cao, có mặt chưa đáp ứng yêu cầu của nền hành chính hiện đại.

- Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu ở một số tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế. Công tác kiểm tra, giám sát thiếu toàn diện, có lúc chưa kịp thời. Công tác dân vận, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội có mặt chậm đổi mới; việc phát hiện, xây dựng, nuôi dưỡng và nhân rộng các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt chưa nhiều, có nơi chưa quan tâm đúng mức. Một số cán bộ, đảng viên, công chức còn hạn chế về phẩm chất, năng lực, ý thức công vụ; vi phạm kỷ luật về phát ngôn của Đảng, chia sẻ thông tin thiếu tích cực trên mạng xã hội, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Công tác đấu tranh, phòng ngừa, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiệu quả chưa cao.

3. Nguyên nhân

Những hạn chế nêu trên do nhiều nguyên nhân khác nhau, cả chủ quan và khách quan, khó tránh khỏi trong quá trình phát triển.

3.1. Nguyên nhân khách quan

+ Kinh tế của thành phố còn nhiều khó khăn, quy mô nhỏ; chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu. Tác động từ việc điều chỉnh kế hoạch chung phát triển đô thị; chủ trương dừng triển khai dự án Nhà máy điện hạt nhân có ảnh hưởng nhất định đến định hướng chiến lược phát triển của thành phố.

               + Ảnh hưởng tiêu cực từ biến đổi khí hậu toàn cầu, thiên tai, bão lũ, xâm nhập mặn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư của doanh nghiệp và đời sống của một bộ phận Nhân dân.

              +  Tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp; kinh tế - xã hội và đời sống của đất nước, tỉnh nhà còn khó khăn; sự tăng cường chống phá của các thế lực thù địch bằng âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với cách mạng nước ta. 

3.2. Nguyên nhân chủ quan

+ Vai trò tham mưu, đề xuất các chủ trương của thành phố và sự phối hợp với tỉnh, sở, ban, ngành còn hạn chế, có lúc chưa thật chủ động. Chất lượng công tác quy hoạch và năng lực dự báo, tầm nhìn có mặt còn hạn chế; đề ra một số chỉ tiêu phấn đấu cao, không phù hợp với nguồn lực và khả năng thực tế.

+ Công tác cụ thể hóa, tổ chức thực hiện chủ trương, nghị quyết của cấp trên ở một số cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng có mặt còn hạn chế. Phương pháp quản lý, điều hành của các cấp chính quyền có nơi chưa thật sự đổi mới, còn nặng về thủ tục hành chính. Công tác phối hợp giữa các ngành và địa phương có lúc chưa đồng bộ, chặt chẽ; một số vụ việc xử lý còn chậm, nhất là trên lĩnh vực quản lý đất đai, xây dựng.

+ Công tác quản lý, giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên ở một số tổ chức cơ sở đảng chưa được quan tâm đúng mức; ý thức công vụ, kỷ luật, kỷ cương hành chính ở một số ít cán bộ, công chức, người lao động chưa nghiêm. Việc lựa chọn và phân công một số đồng chí cấp ủy viên chưa phù hợp, do đó có ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả công việc. Công tác giám sát của Mặt trận, đoàn thể và Nhân dân đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên còn hạn chế. 

+ Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp chậm đổi mới về nội dung và hình thức; hoạt động có lúc, có nơi còn mang tính hành chính, sự vụ, thiếu chiều sâu.

IV- BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Trong quá trình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị thành phố với những thành tựu của chặng đường 30 năm xây dựng và phát triển thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm.

Thứ nhất, bám sát sự chỉ đạo, hỗ trợ của Trung ương, Tỉnh ủy đồng thời luôn chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong vận dụng các quan điểm, đường lối của Đảng vào thực tiễn của thành phố, trên cơ sở kiên định mục tiêu, lý tưởng, giữ vững nguyên tắc trong quá trình đổi mới.

Thứ hai, kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết, hợp tác, tinh thần trách nhiệm của Đảng bộ thành phố; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị trong thực hiện các nhiệm vụ mà nghị quyết đã đề ra.

Thứ ba, coi trọng đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo của các cấp ủy, bảo đảm vừa toàn diện, vừa có trọng tâm, trọng điểm, lựa chọn trúng và đúng những vấn đề quan trọng của thành phố để triển khai thực hiện.

Thứ tư, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; phát huy dân chủ trong Đảng và trong xã hội, gắn liền với bảo đảm giữ vững kỷ cương, gắn bó mật thiết, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, nhất là người đứng đầu cấp ủy; chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất và năng lực, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

Thứ năm, chú trọng công tác tổng kết thực tiễn, thường xuyên sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, khen thưởng, nhân rộng những tấm gương điển hình; thường xuyên coi trọng và tăng cường kiểm tra, giám sát, phòng, ngừa và xử lý nghiêm các vi phạm, góp phần nâng cao kỷ luật, kỷ cương, củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng

Phần II

DỰ BÁO TÌNH HÌNH, MỘT SỐ MỤC TIÊU, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ ĐẾN NĂM 2030

I- DỰ BÁO TÌNH HÌNH

Năng lực lãnh đạo của Đảng bộ thành phố tiếp tục được đổi mới và nâng cao. Chính quyền các cấp tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện. Hệ thống chính trị tiếp tục được đổi mới và hoàn thiện theo hướng tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Dân chủ được nâng cao, chính trị xã hội ổn định.

Những năm tới, thành phố tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng các tiêu chí đô thị loại II, từng bước xây dựng đô thị thông minh, hiện đại, tích cực hội nhập các vùng kinh tế, nhất là vùng kinh tế trọng điểm. Kinh tế sẽ vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng tương đối cao. Kinh tế thị trường tiếp tục được hoàn thiện sẽ khơi thông các nguồn lực và tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế. Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế gắn với chuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại dựa vào đổi mới sáng tạo sẽ được đẩy mạnh và phát huy hiệu quả. Tinh thần khởi nghiệp sáng tạo tiếp tục được phát huy. Kinh tế tư nhân ngày càng có điều kiện phát triển, đóng góp lớn hơn cho sự phát triển của thành phố. Tăng trưởng kinh tế sẽ dựa chủ yếu vào năng suất các  nhân tố tổng hợp, khoa học - công nghệ, đổi mới, sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao; các thành phần kinh tế được tạo cơ hội phát triển bình đẳng, phù hợp và hiệu quả.

Đời sống của người dân tiếp tục được cải thiện và nâng cao, bảo đảm được các yêu cầu cơ bản về an ninh xã hội, phúc lợi xã hội. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ tác động lớn đến mọi lĩnh vực của đời sống. Vì thế, cần có những quyết sách ứng phó phù hợp để khai thác, tận dụng thành công những cơ hội và vượt qua các khó khăn, thách thức.

Tuy nhiên, quy mô kinh tế còn nhỏ, chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa thật sự bền vững; nguồn nhân lực còn thiếu, chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Đời sống một bộ phận nhân dân còn khó khăn, thu nhập thiếu ổn định, nhất là địa bàn nông thôn, ven biển. Các mối đe dọa, nguy cơ tiếp tục đối mặt đó là các thế lực thù địch tăng cường các hoạt động chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân; các thách thức của quá trình độ thị hóa, dịch bệnh, suy thoái môi trường, nguồn nước và biến đổi khí hậu có tác động đến sự phát triển bền vững của thành phố.

Tình hình thành phố có cả thuận lợi, đan xen khó khăn, đặt ra yêu cầu mới của quá trình đô thị hóa, xây dựng và phát triển thành phố, đòi hỏi toàn Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tăng cường đoàn kết, nỗ lực phấn đấu cao hơn, tận dụng thời cơ, phát huy lợi thế để phát triển. Đồng thời, đưa ra những quyết sách để xử lý, ứng phó kịp thời, có hiệu quả những thách thức để bảo vệ, xây dựng và phát triển thành phố ngày càng văn minh, hiện đại.

II- MỤC TIÊU

Xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị thành phố trong sạch, vững mạnh toàn diện; phát huy dân chủ, truyền thống đoàn kết, ý chí và khát vọng xây dựng,  phát triển thành phố, nếp sống văn minh đô thị. Khai thác tiềm năng lợi thế, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng các tiêu chuẩn đô thị loại II; tận dụng hiệu quả cơ hội do cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đột phá phát triển thương mại và dịch vụ, trong đó cốt lõi là phát triển đô thị du lịch; tạo môi trường thông thoáng, phát triển sản xuất kinh doanh, thu hút đầu tư, ưu tiên đối với các dự án sử dụng công nghệ tiên tiến, sạch và thân thiện môi trường. Bảo đảm an sinh xã hội, phát triển văn hóa, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân, huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực có chất lượng cao. Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phát triển thành phố Phan Rang - Tháp Chàm là đô thị xanh, môi trường an toàn, thân thiện, từng bước trở thành đô thị thông minh.

III- ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

1. Tăng cường công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự và ngày càng trong sạch, vững mạnh; giữ vững sự đoàn kết, thống nhất tư tưởng và hành động trong Đảng. Làm tốt hơn nữa công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục truyền thống cách mạng, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ; tự phê bình và phê bình trong các cấp ủy đảng. Phát huy vai trò lãnh đạo tập thể trong việc xem xét, quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, đơn vị. Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, phát huy tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

2. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực; năng lực cụ thể hóa, tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, Tỉnh ủy, Thành ủy; đề ra chủ trương, giải pháp để phát huy tiềm năng, lợi thế phát triển đột phá ngành thương mại - dịch vụ, trọng tâm là dịch vụ du lịch, thương mại điện tử. Tiếp tục phát triển công nghiệp theo hướng sạch, thân thiện với môi trường. Tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư xây dựng các khu đô thị mới, các khu dân cư cao cấp, hạ tầng thương mại, du lịch; hạ tầng công nghệ thông tin để từng bước xây dựng thành phố Phan Rang – Tháp Chàm trở thành đô thị thông minh. 

3. Thực hiện tốt công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch, quản lý xây dựng và kiến trúc, đất đai, môi trường, cơ sở hạ tầng, nhà ở, các dịch vụ đô thị, bảo đảm theo hướng đồng bộ, văn minh và hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển. Quan tâm bảo vệ cảnh quan, môi trường khu vực ven biển, ven sông Dinh để phát triển du lịch. Đẩy mạnh công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng để triển khai thực hiện các dự án hạ tầng đô thị, các khu đô thị, khu dân cư. Huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; tranh thủ tối đa nguồn hỗ trợ của Trung ương, của tỉnh cho đầu tư phát triển, nâng chất lượng xây dựng đô thị. Phát huy hiệu quả cơ chế chính sách đặc thù, nhất là cơ chế huy động các nguồn lực, tạo điều kiện thuận lợi cho thành phố phát triển toàn diện, vững chắc.

4. Quan tâm nâng cao chất lượng giáo dục. Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi phát triển, nâng cao hiệu quả giáo dục các trường ngoài công lập. Tiếp tục quan tâm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế; phát triển đồng bộ các mặt chẩn đoán, điều trị, phòng bệnh và chữa bệnh. Tiếp tục thực hiện các chương trình mục tiêu y tế và phòng, chống dịch bệnh; chủ động phòng ngừa các bệnh xã hội, góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng, kiểm soát dịch bệnh nguy hiểm. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong lĩnh vực y tế.

Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, đổi mới nếp sống văn hóa, văn minh đô thị, xây dựng hình ảnh, con người thành phố Phan Rang - Tháp Chàm thân thiện, văn minh. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin góp phần xây dựng đô thị thông minh, nâng cao năng lực quản lý, điều hành, xây dựng nền hành chính phục vụ Nhân dân. Triển khai thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân. Quan tâm công tác đào tạo nghề để chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với quá trình đô thị hóa gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

5. Củng cố, xây dựng tiềm lực trong khu vực phòng thủ, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu; chủ động, không bị bất ngờ trong mọi tình huống. Tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu trọng điểm của tỉnh, thành phố, bảo đảm an ninh chính trị nội bộ, an ninh tư tưởng, an ninh kinh tế, an ninh, an toàn thông tin mạng. Nâng cao chất lượng phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc; củng cố, phát huy các mô hình tự quản.

6. Tăng cường, đổi mới công tác dân vận của Đảng và dân vận chính quyền. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; giải quyết tốt những vấn đề bức xúc; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần Nhân dân, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đánh giá, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm trong tổ chức triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng; thực hiện tốt công tác thi đua khen thưởng, động viên, cổ vũ cán bộ, đảng viên và Nhân dân đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, chung tay xây dựng và phát triển thành phố. 

 

[1] Giai đoạn 1992-1995 là 10,89%/năm; giai đoạn 1996-2000 là 8,8%; giai đoạn 2000-2005 là 9,29%; giai đoạn 2005-2010 là 13,96%; giai đoạn 2010-2015 là 7,69%; giai đoạn 2015-2020 là 10,53%.

[2] Giai đoạn 1992-1995 là 10,89%/năm; giai đoạn 1996-2000 là 8,8%; giai đoạn 2000-2005 là 9,29%; giai đoạn 2005-2010 là 13,96%; giai đoạn 2010-2015 là 7,69%; giai đoạn 2015-2020 là 10,53%.

[3] Trong 5 năm có khoảng 1.590 cơ sở hộ kinh doanh đăng ký hoạt động, trong đó ngành thương nghiệp chiếm 39,1% (620 cơ sở), khách sạn nhà hàng chiếm 24,5% (390 cơ sở), các loại hình dịch vụ khác chiếm 36,4% (580 cơ sở), với tổng vốn đăng ký hoạt động là 469,254 tỷ đồng.

[4] Như tuyến đường Ngô Gia Tự, Thống Nhất, đường 21/8,...

[5] Như mô hình 1 phải 5 giảm trên cây lúa, măng tây xanh, mô hình VietGAP trên cây nho, táo.

[6] Đồ án quy hoạch chung xây dựng nông thôn mới đến năm 2020, quy hoạch chi tiết khu trung tâm hành chính, khu dân cư và vùng sản xuất xã Thành Hải.

[7] Đình Văn Sơn, Đình Nhơn Sơn, Đình Tây Giang, Lăng ông Hải Chử, Miếu Xóm Bánh, Nhà Nguyễn Hữu Hương.

[8] Đình Kinh Dinh, Đình Tấn Tài, Đình Đạo Long, Miếu Hòa Xuân, Hò Bả Trạo, Miếu Đông Sơn, Đình Mỹ Phước.

[9] Đến nay, đã có 117 thôn, khu phố văn hóa, 10 phường đạt chuẩn Văn minh đô thị, 01 xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới.

[10] Hiện nay, có gần 200 điểm tập thể dục thể thao (12 Yoga, 10 thể hình, 35 sân quần vợt, 18 cầu lông, 28 sân cỏ nhân tạo, 50 bóng bàn, 12 điểm tập võ thuật, 14 sân bóng chuyền, 02 hồ bơi, 06 bể bơi…).